nấu ăn
Tiếng Việt thiết bị phòng thí nghiệm

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống ĐMXD CTTL là giải pháp quan trọng để quản lý tốt các Dự án đầu tư xây dựng

(14:45:05 PM 27/11/2015)

Công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh, kinh tế xã hội, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái. Đầu tư xây dựng công trình thủy lợi thuộc khu vực đầu tư công và chiếm tỷ trọng khá lớn trong nguồn vốn ngân sách chi cho đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm của ngành nông nghiệp.

 Quản lý tốt các dự án  đầu tư xây dựng thủy lợi có ý nghĩa quan trọng để phát huy hiệu quả của công trình. Bài viết này  tác giả phân tích những bất cập của hệ thống định mức xây dựng thủy lợi, các khó khăn vướng mắc trong quá trình quản lý dự án, trên cơ sở đó đề xuất chương trình xây dựng bộ định mức chuyên ngành thủy lợi và coi đó là giải pháp để quản lý tốt dự án đầu tư,  nâng cao hiệu quảcông trình

I. Đặt vấn đề

Công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng kỷ thuật, tạo tiền đề phục vụ phát triển kinh tế xã hội, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái. Đầu tư xây dựng công trình thủy lợi thuộc khu vực đầu tư công và chiếm tỷ trọng khá lớn trong nguồn vốn ngân sách chi cho đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm của ngành nông nghiệp. Quản lý tốt công tác đầu tư xây dựng công trình thủy lợi có ý nghĩa quan trọng trong việc tiết kiệm chi phí đầu tư, rút ngắn thời gian xây dựng, phát huy hiệu quả của công trình.

Do tính đặc điểm công trình, tổ chức thi công, điều kiện địa  hình-địa chất-thuỷ văn nơi xây dựng, công nghệ xây dựng…. mà công trình thuỷ lợi có tính đặc thù riêng, khác với công tác xây dựng dân dụng, công nghiệp, giao thông .v.v. Theo các quy định hiện nay, công trình thủy lợi được xếp vào nhóm công trình xây dựng chuyên ngành và việc xây dựng, công bố định mức chuyên ngành thuỷ lợi là nhiệm vụ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Công tác nghiên cứu xây dựng, sửa đổi bổ sung định mức xây dựng chuyên ngành thủy lợi phải được coi nhiệm vụ quan trọng trong việc hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý đầu tư và xây dựng để quản lý tốt các dự án đầu tư theo đúng các quy định của pháp luật.

Công tác nghiên cứu xây dựng, sửa đổi bổ sung định mức chuyên ngành thủy lợi từ nhiều năm trước đây đã được thực hiện khá tốt. Nhiều tập định mức đơn giá do Bộ ban hành đã được áp dụng rộng rãi trong cả nước, như: Định mức đơn giá tàu hút bùn và xáng cạp; Định mức đơn giá thí nghiệm mô hình thủy lực; Định mức đơn giá khoan phụt vữa gia cố đê; Định mức dự toán xây dựng tu sửa đê kè; Định mức dự toán công tác khảo sát xử lý mối công trình thủy lợi; Định mức dự toán thi công bê tông đầm lăn; Định mức đơn giá chế tạo bột sét phụt vữa gia cố đê; Định mức đắp đập trong nước ở Vùng ĐBSCL; Định mức dự toán ứng dụng công nghệ thông tin; Định mức dự toán đầm rung SaKai và đầm cóc thi công công trình thủy lợi,v.v.v. Việc xây dựng và ban hành kịp thời các tập định mức chuyên ngành đã tạo lập cơ sở pháp lý giúp các cơ quan quản lý nhà nước, các chủ đầu tư và các nhà thầu xây dựng thực hiện tốt chức năng quản lý.

II. Những bất cập của hệ thống định mức xây dựng thủy lợi

Trong những năm gần đây, việc ứng dụng công nghệ mới, vật liệu mới, máy móc thiết bị mới trong xây dựng thủy lợi để nâng cao năng suất, chất lượng và tuổi thọ của công trình ngày càng nhiều như: đập trụ đỡ, bê tông đầm lăn, bê tông bản mặt, cống đập xà lan di động, khoan phụt áp lực cao xử lý nền công trình thủy lợi, gia cố nền bằng công nghệ Jetgouting, đập cao su, thi công thảm đá chống sạt lở, thi công bê tông mái kênh bằng dàn trống lăn (theo công nghệ GoMaCo - Mỹ).v.v.  Khi áp dụng công nghệ mới, vật liệu mới, máy móc thiết bị mới lại gặp không ít khó khăn trong quản lý do các công tác xây dựng này chưa có định mức và đơn giá.

Quá trình thi công xây dựng công trình thuỷ lợi bị ảnh hưởng nhiều của các yếu tố khách quan như địa hình thi công khó khăn, mặt bằng thi công chật hẹp, ảnh của khí hậu thời tiết, thủy văn… nên tổ chức thi công khá phức tạp. Vì vậy nhiều công tác xây dựng chuyên ngành hiện vẫn chưa có định mức, một số công tác khác tuy có định mức (do Bộ Xây dựng ban hành) nhưng không phù hợp với đặc điểm thi công xây dựng thủy lợi nên còn nhiều bất cập, thậm chí không áp dụng được, như: đắp đập đất khu vực tây nguyên; đắp áp trúc đê; bê tông thủy công; bê tông kênh mương; thi công bê tông võ mỏng kênh mương; đắp đất bằng đầm cóc; đắp cấp phối mặt đê; khoan phụt xử lý nền; công tác làm thảm đá bảo vệ bờ; công tác cốt pha, giàn giáo đập, tràn; thi công tường hào Betonai; công tác đóng cọc mốc mặt bằng; công tác bê tông đá hộc; cốt thép mái đập; công tác đắp bao tải đất, đắp đất sét luyện; đào móng công trình bằng máy đào đặt trên Pongtong; gia công lắp đặt cửa van composit; công tác hút cát san lấp mặt bằng công trình nền dân cư; đóng cọc cừ bằng máy đào; đắp bờ bao bể lắng bằng máy đào; công tác đắp đập vùng tây nguyên .v.v..

Công tác nghiên cứu bổ sung, sửa đổi các định mức chuyên ngành chưa kịp thời, trong khi các chính sách của Nhà nước về quản lý đầu tư xây dựng liên tục thay đổi. Chỉ tính từ năm 2005 đến 2007 đã có tới 25 nghị định của Chính phủ và 63 thông tư, quyết định của Bộ Xây dựng về quản lý đầu tư và xây dựng.  Trong khi đó các cơ chế chính sách định mức đơn giá của ngành không được nghiên cứu, sửa đổi bổ sung cho phù hợp nên không còn hiệu lực pháp lý áp dụng.

Nhiều công tác xây dựng không có định mức nên quá trình triển khai thực hiện dự án đầu tư gặp nhiều khó khăn. Các chủ đầu tư xây dựng công trình thiếu cơ sở pháp lý trong việc lập, thẩm tra, thẩm định phê duyệt dự án, dự toán là nguyên nhân làm chậm tiến độ, nhất là khi phải giãi trình với các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Từ các vướng mắc trên mà các chủ đầu tư, các cơ quan quản lý cũng rất ngại áp dụng công nghệ mới; các nhà thầu không muốn đổi mới công nghệ xây dựng chuyên ngành.

III. Một số vấn đề về định mức xây dựng trong công tác bê tông thủy công và bê tông mái kênh.

Bê tông thủy công, bê tông mái kênh thường làm việc trong những điều kiện đặc biệt như luôn nằm trong nước với cột nước áp lực lớn và thương thay đổi theo sự dao động của mực nước. Ngoài ra nó còn chịu tác dụng nhiều của môi trường bên ngoài chịu xói của dòng nước có tốc độ cao, ma sát của bùn cát và xâm thực của môi trường nước xung quanh. Do làm việc trong những điều kiện bất lợi nên bê tông thủy công, bê tông mái kênh có những yêu cầu riêng, đòi hỏi phải có chất lượng cao như: cường độ (chịu nén và chịu kéo) cao; chống thấm và chống xâm thực tốt; chống xói, chống bào mòn và chống nứt nẻ tốt…

Công tác bê tông thủy công, bê tông mái kênh chiếm tỷ trọng khá lớn trong khối lượng xây dựng công trình thủy lợi. Hiện nay chưa có định mức chuyên ngành riêng cho công tác bê tông thủy công và bê tông mái kênh công trình thủy lợi mà đang áp dụng định mức chung do Bộ xây dựng ban hành, nên còn nhiều bất cập. Phần lớn các định mức dự toán này chưa phản ánh hết các thành phần hao phí về vật liệu, nhân công, máy thi công. Sự bất cập về định mức củng là nguyên nhân quan trọng trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng công trình, công trình nhanh xuống cấp. Cụ thể là:

a) Định mức công tác bê tông thủy công và bê tông mái kênh nhìn chung còn thấp, chưa phản ánh đúng các hao phí cần thiết trong quá trình thi công

 

Nhìn chung định mức công tác bê tông thủy công, bê tông mái kênh công trình thủy lợi hiện nay còn thấp, mặc dù yêu cầu kỷ thuật cao, điều kiện thi công khó khăn hơn công tác bê tông thông thường như: cốt liệu có độ bền chịu lực tốt, trọng lượng đơn vị cao, sạch sẽ không có tạp chất hữu cơ; yêu cầu kỹ thuật trong quá trình đổ bê tông cho móng, bê tông khối lớn, bê tông cột, tường bản, vòm và khớp nối thi công rất khắt khe; mặt bằng thi công chật hẹp; các công việc phụ trợ nhiều (đánh xờm, xử lý khe thi công, vệ sinh, bảo dưỡng…); Hiện trường đổ bê tông thủy công thường chập hẹp(nhất là bê tông mái kênh), tiến độ thi công phải nhanh, thời gian thi công đòi hỏi gấp rút để giảm bớt các rủi ro do thiên tai gây ra trong khi khối lượng bê tông thường rất lớn nên phải tập trung thiết bị, máy móc, nhân lực và nguyên nhiên vật liệu. Trong quá trình thi công lại còn phải luôn luôn đối phó và khắc phục những sự cố bất thường như thấm, sụt, lở do mưa, bão, lũ lụt gây ra.v.v. nên hao phí vật liệu, nhân công, máy thi công lớn hơn.

Định mức thấp dẫn đến đơn giá thấp, các doanh nghiệp xây dựng thủy lợi rất khó bảo toàn và phát triển vốn nên không có điều kiện đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ. Ví dụ: công tác đổ bê tông tường (ở công trình dân dụng) có điều kiện thi công thuận lợi hơn rất nhiều công tác bê tông thủy công công trình thủy lợi (tương cánh, tương biên; tường tru pin, trụ biên) nhưng lại có định mức cao hơn. Định mức thấp nên đơn giá bê tông thủy công công trình thủy lợi thấp hơn các công trình dân dụng, thường chỉ bẳng 80-90 % là rất bất hợp lý (chi tiết xem bảng 1)

 

Bảng 1: Bảng so sánh đơn giá đổ bê tông tường công trình dân dụng và bê tông tường, trụ pin công trình thủy lợi (bê tông thủy công)

 

  (Đơn giá Hà nội năm 2006)

 Tương tư như vậy, công tác đổ bê tông móng (trong các công trình dân dụng) có điều kiện thi công thuận lợi hơn rất nhiều công tác bê tông móng công trình thủy lợi (bản đáy, bản nền) nhưng định mức lại cao hơn và do đó đơn giá củng cao hơn ( chi tiết xem bảng 2) 

Bảng 2: Bảng so sánh đơn giá đổ bê tông móng công trình dân dụng và bê tông bản đáy, bê tông bản nền công trình thủy lợi (bê tông thủy công)

 

(Đơn giá Hà nội năm 2006)

 

b) Hao hụt về  vật liệu  trong quá trình thi công lớn

 

Đặc điểm của công tác bê tông thủy công, bê tông mái kênh là thi công theo tuyến, dàn trải trên một vùng lớn, vật tư vật liệu tập kết phân tán nên khó quản lý, hao hụt nhiều; máy móc thiết bị di chuyển nhiều, đổ bê tông theo mái nghiêng (mái kênh).   Trong tập định mức dự toán xây dựng hiện hành (Bộ xây dựng công bố),  các hao hụt phí vật liệu, nhân công máy thi công cũng tương tự như như công tác bê tông mặt cầu, mặt đường và thậm chí còn thấp hơn công tác bê tông tường là không phù hợp, nên đơn giá bê tông mái kênh thấp (chi tiết xem Bảng 3).

 

(Đơn giá Hà nội năm 2006)

c) Mác vữa bê tông, giá thành và tuổi thọ công trình .

 

Bê tông thủy công, bê tông mái kênh chịu tác dụng nhiều của môi trường bên ngoài chịu xói của dòng nước có tốc độ cao, ma sát của bùn cát và xâm thực của môi trường nước xung quanh. Mác bê tông là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng bê tông và tuổi thọ của công trình. Nhiều nhà quản lý cho rằng, các quy định hiện này về tiêu chuẩn thiết kế mác vữa bê tông công trình thủy lợi nói chung và bê tông thủy công, bê tông kênh mương có thiên hướng thấp để giảm giá thành xây dựng. Trong thực tế, khi tăng hoặc giảm mác bê tông tuy có tăng giảm đơn giá nhưng không lớn. Vấn đề cần bàn là mối quan hệ giữa giảm giá thành khi tăng mác bê tông để tăng chất lượng công trình, kéo dài tuổi thọ công trình cần phải được cân nhắc tính toán trong thiết kế. Bảng 4 phân tích mức độ tăng giá khi tăng mác bê tông của một số công tác bê tông thủy công, bê tông mái kênh để các nhà quản lý tham khảo khi quyết định.   Nếu giảm mác bê tông từ M200 xuống M150 thì giảm được 8 % giá thành, hoặc nếu tăng mác bê tông từ M200 lên M250 hoặc 300 thì giá thành tăng lên bình quân tương ứng khoảng 8 % và 14 %.

 Bảng 4:Bảng phân tích đơn giá 1 m3  bê tông theo mác bê tông

MH

Công tác

 

 

 

Đơn giá/m3

So sánh giá

 

 

M150

M200

M250

M300

M150

M200

M250

M300

AF.15313

Bê tông mái bờkênh mương

558,171

603,054

649,467

685,254

0.92

1.00

1.076

1.14

AF.4111

Bê tông bản đáy

497,101

545,241

600,455

629,851

0.91

1.00

1.10

1.15

AF.41212

Bê tông tường cánh, t.biên

679,757

727,426

782,098

811,206

0.93

1.00

1.075

1.11

AF.4132

Bê tông trụpin, trụ biên

624,526

672,194

726,867

755,975

0.93

1.00

1.08

1.12

AF.4143

Bê tông tường thượng lưu đập

544,014

591,682

646,355

675,463

0.92

1.00

1.09

1.14

AF.4152

Bê tông mặt cong đập tràn

607,271

655,411

710,625

740,021

0.93

1.00

1.08

1.13

Các tin khác

  • Banner dưới tin mới 4
  • top